Về việc cử cán bộ Khoa học, chuyên gia đăng ký tham gia hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh; Về việc tổ chức các hoạt động kỷ niệm Ngày Khoa học Công nghệ Việt Nam 18/5; Đại Hội Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ VII, nhiệm kỳ 2015-2020; Quyết định thành lập Đoàn khảo sát công tác triển khai Hội thi sáng tạo tỉnh Ninh Bình lần thứ VII (2014-2015); Thứ Năm, Ngày 13/12/2018
PHỔ BIẾN KIẾN THỨC
Nguyên nhân và xử trí triệu chứng sốt Thứ Hai, Ngày 29/02/2016
Sốt là khi thân nhiệt đo ở nách cao hơn 37,50C, hoặc đo ở trực tràng cao hơn 380C. Thân nhiệt dưới những con số đó không thể coi là sốt, dù có cảm giác “gai gai” hoặc sờ trán thấy “ấm đầu”.

Ở người bình thường, thân nhiệt cao lên khi gắng sức thể lực, khi ăn, khi nhiệt độ bên ngoài cao và ở phụ nữ trong giai đoạn sau của chu kỳ kinh nguyệt, từ ngày rụng trứng trở đi. Thân nhiệt còn phụ thuộc vào tuổi: trẻ con dễ sốt hơn người lớn và ở người cao tuổi thì ít khi thân nhiệt tăng! Buổi sáng, thân nhiệt bình thường cũng thấp hơn buổi chiều, cho nên phải đo thân nhiệt 2 lần mỗi ngày.

Trong trường hợp sốt nhẹ, người bệnh hay thấy ớn lạnh, hoặc nóng bừng, chán ăn, nhức đầu, khó chịu, rộp môi, cũng có khi không cảm thấy gì khác. Nhưng khi sốt nặng trên 400C, người bệnh hay rét run, có khi rung cả giường chiếu, sốt cao nữa có thể mê sảng, co giật, nhất là sốt cao ở trẻ em. Trong thực tiễn, ít khi thân nhiệt vượt quá 410C.
Nếu sốt kéo dài quá 2-3 tuần lễ, cơ thể bị mất nước, hao tổn calo, làm tim đập nhanh, sút cân nhanh.

1. Nguyên nhân sốt
Sốt là phản ứng tự nhiên của cơ thể, để đối phó với nhiều tác nhân gây bệnh; người quá già hoặc quá yếu thường sốt ít hoặc không sốt, ngay cả khi nhiễm khuẩn nặng. Những nguyên nhân thường gặp của sốt là:

1.1. Nhiễm khuẩn (virus, vi khuẩn, ký sinh trùng, nấm). Đây là nguyên nhân hay gặp nhất, khoảng 60% trường hợp, cho nên đầu tiên phải nghĩ ngay đến nguyên nhân này.
Trước hết phải đi tìm các dấu hiệu chỉ điểm, xem có chỗ nào đau hoặc sưng nóng, đỏ mưng mủ không? Ví dụ:
- Đau đầu: đi tìm áp xe não, viêm não.
- Đau và cứng ở gáy: viêm màng não
- Đau ngực: viêm phổi, viêm màng phổi, áp xe phổi, viêm màng tim.
- Đau bụng: viêm ruột thừa, áp xe gan, viêm đường mật.
- Đau khớp: thấp khớp cấp, viêm khớp dạng thấp, nhiễm khuẩn khớp.
- Đau hạch: nhiễm khuẩn khu vực, viêm hạch
Sau đó, xác định chẩn đoán bằng các xét nghiệm và các thăm dò chuyên khoa để tìm các nhiễm khuẩn toàn thân, như thương hàn, lao….

1.2. Các nguyên nhân khác không phải nhiễm khuẩn thì ít gặp hơn nhiều.
Ví dụ:
- Lupus ban đỏ hệ thống dễ gây sốt kéo dài.
- Ung thư ở các phủ tạng như gan, não, tủy sống, phổi, thận, tụy…
- Bệnh huyết học như bệnh bạch cẩu, chảy máu, tan máu…
- Nhồi máu cơ tim cũng có thể sốt nhẹ;
- Do tiêm truyền (chí nhiệt tố), do thuốc.

2. Điều trị triệu chứng sốt
Trước một người sốt, chữa nguyên nhân là căn bản, ví dụ: cắt bỏ ruột thừa, tháo mủ áp xe, chọc tháo màng phổi, màng tim, corticoid liệu pháp (trong lupus ban đỏ)….

Nhưng đồng thời cũng cần chữa triệu chứng sốt, nhất là khi chưa hoặc không tìm thấy nguyên nhân, thì chữa sốt lại càng cần thiết.

- Tiếp nước đầy đủ: khi thân nhiệt quá 370C, cứ sốt thêm 10C, thì cơ thể cần thêm 100-150ml nước mỗi ngày, khi trời khô hanh hoặc ra nhiều mồ hôi, có thể còn cần nhiều nước hơn nữa. Tốt nhất là bằng đường uống, có thể dùng nước quả, nước chè loãng, nước rau, sữa hoặc nước đun sôi để nguội tùy theo khẩu vị của người bệnh. Uống được nước lạnh hoặc nước đá càng giúp hạ thân nhiệt thêm.

Ở người sốt kéo dài, nên chú ý cung cấp đủ calo, vì khi thân nhiệt tăng 10C, chuyển hóa cơ bản tăng 13%. Nên cho uống nước đường, sữa, hoa quả.

Chỉ khi nào không thể uống đủ nước theo yêu cầu do nôn, khó nuốt hoặc chán ăn mới phải truyền dịch. Phần lớn trường hợp nên truyền các dung dịch đẳng trương, NaCL 0,9%, glucose 5% hoặc dung dịch Ringer lactat. Trong những ca đặc biệt, có thể dùng dung dịch glucose ưu trương (10% - 30%) để tiếp thêm calo, hoặc nhược trương (NaCl 4,5%o). Không trộn thêm khuốc khác vào dịch truyền, để tránh tương kỵ thuốc.

- Hạ nhiệt chỉ cần khi sốt cao, thân nhiệt quá 400C, nhất là ở trẻ em, hoặc khi kèm theo có thai, co giật, mê sảng. Sốt trên 410C phải coi là cấp cứu.
- Đơn giản và an toàn hơn cả là dùng khăn lạnh hoặc túi nước đá đặt lên trán, bụng, trong nách. Khi sốt quá cao, có thể bọc khăn lạnh. Rất hiếm khi phải tắm nước đá hoặc thụt nước đá.

- Những thuốc sau đây chỉ được dùng khi người bệnh kêu nóng:
+ Aspirin, người lớn uống 2-4 viên 500mg/24 giờ, chia làm 2-4 lần, sau bữa ăn no. Chống chỉ định: bệnh dạ dày, bệnh chảy máu. Hoặc:
+ Paracetamol, viên 500mg, mỗi lần uống 1 viên, dùng 4-6 lần/24 giờ.

Thu Hoài (theo SK&ĐS)

CÁC TIN KHÁC
Bài thuốc chữa bệnh hay từ Tỏi đen Thứ Ba, Ngày 27/11/2018
Lười ăn rau khiến bạn có nguy cơ mắc nhiều bệnh hơn bạn nghĩ Thứ Ba, Ngày 27/11/2018
Kỹ thuật trồng hoa Hồng leo Thứ Ba, Ngày 27/11/2018
Đột quỵ: nhận biết các dấu hiệu cảnh báo và xử trí ban đầu Thứ Hai, Ngày 26/11/2018
Những thực phẩm cực tốt cho Mắt Thứ Hai, Ngày 26/11/2018
Phòng bệnh Bạch Hầu Thứ Hai, Ngày 26/11/2018
Những thực phẩm giúp phòng chống ung thư Thứ Sáu, Ngày 23/11/2018
Gỗ nhân tạo - Vật liệu của tương lai Thứ Sáu, Ngày 23/11/2018
Để giảm đau do viêm khớp Thứ Sáu, Ngày 23/11/2018
Những cách chữa bệnh không dùng thuốc, đạt hiệu quả cao Thứ Sáu, Ngày 23/11/2018
Trang 1/57 - 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 45 46 47 48 49 50 51 52 53 54 55 56 57
THÔNG BÁO
Liên kết web:
Quảng cáo
Thống kê truy cập
Tổng số truy cập:
6217124
Số người online:
18

Bản quyền của khoahockythuat.ninhbinh.gov.vn
Cơ quan chủ quản: LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT NINH BÌNH
Địa chỉ: Phố Kỳ Lân - phường Tân Thành - thành Phố Ninh Bình;
Email: lhhninhbinh@gmail.com; Điện thoại: 0303.886.985
Ghi rõ nguồn khoahockythuat.ninhbinh.gov.vn khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.