Banner chính
Chủ Nhật, 05/02/2023
Liên hiệp hội khoa học và kỹ thuật Ninh Bình

Khái quát về thực trạng và giải pháp chuyển đổi số trong phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam

Thứ Tư, 28/12/2022

Microsoft cho rằng, chuyển đổi số (digital transformation) là việc tư duy lại cách thức các tổ chức tập hợp mọi người, dữ liệu và quy trình để tạo những giá trị mới. Trong làn sóng Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư chuyển đổi số đang diễn ra rộng khắp ở tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, làm thay đổi phương thức quản lý, mô hình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đời sống văn hóa, xã hội trên phạm vi toàn cầu. Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên đưa ra một chiến lược rõ ràng về chuyển đổi số và đang hướng tới mục tiêu đến năm 2025 thuộc nhóm 50 nước dẫn đầu về Chính phủ điện tử, kinh tế số đóng góp 20% GDP; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%; mọi người dân có cơ hội tiếp cận, trải nghiệm các dịch vụ thông minh,…

Chuyển đổi số có tác động sâu rộng, bao trùm lên tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, làm thay đổi phương thức quản lý, mô hình sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng và đời sống. Ở cấp độ quốc gia, quá trình chuyển đổi số sẽ hình thành chính phủ số, kinh tế số và xã hội số - ba trụ cột của một quốc gia số. Trong đó, Kinh tế số là các mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của nền kinh tế dựa trên ứng dụng công nghệ số. Kinh tế số dựa trên loạt công nghệ mới, như: trí tuệ nhân tạo (AI), Big Data, IoT, Cloud, chuỗi khối... Nền kinh tế số Việt Nam đang trên đà bùng nổ và trở thành thị trường tăng trưởng nhanh thứ hai tại Đông Nam Á sau Inđonesia. Giá trị nền kinh tế số đã đạt 12 tỷ đô la Mỹ năm 2019 với mức tăng trưởng trung bình đạt 38% một năm kể từ năm 2015 và dự kiến sẽ đạt 43 tỷ đô la Mỹ vào năm 2025. Với tổng giá trị thương mại điện tử qua Internet tại Việt Nam đạt 5% GDP trong năm 2019. Năm 2019, ước tính khoảng 61 triệu người Việt online và thời gian sử dụng Internet trên  thiết bị thông minh trung bình khoảng 3 tiếng 12 phút mỗi ngày. Việt Nam hướng tới mở rộng nền kinh tế số, đạt khoảng 20% giá trị GDP vào năm 2025. Còn xã hội số là sự thay đổi môi trường và tổ chức xã hội, từ chính phủ, kinh tế cho tới người dân, dựa trên sự phát triển của thông tin trong khai thác và xử lý dữ liệu. Xã hội số bao gồm công dân số và văn hóa số. Trong đó, công dân số là thế hệ công dân có khả năng truy cập các nguồn thông tin số, giao tiếp trong môi trường số, định danh và xác thực, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư trong môi trường số; văn hóa số là các quy tắc ứng xử, chuẩn mực đạo đức của con người trong môi trường số.

THỰC TRẠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ TẠI VIỆT NAM

Chuyển đổi số đã trở thành xu thế phát triển tất yếu trên toàn cầu và Việt Nam cũng không ngoại lệ. Để thích ứng với tình hình mới, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong đó nhấn mạnh yêu cầu cấp bách để đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg, ngày 14/01/2020 về thúc đẩy phát triển công nghệ số Việt Nam. Đặc biệt, ngày 03/6/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 749/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Việc ban hành Chương trình này đánh dấu Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành chương trình về chuyển đổi số quốc gia, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có nhận thức về chuyển đổi số song hành cùng các quốc gia tiên tiến trên thế giới. Chương trình chuyển đổi số quốc gia đặt mục tiêu kép là vừa phát triển chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, vừa hình thành các doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam có năng lực đi ra toàn cầu. Chương trình đặt ra mục tiêu đến năm 2025, 100% cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đất đai, đăng ký doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm được hoàn thành và kết nối, chia sẻ trên toàn quốc tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử; kinh tế số chiếm 20% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 10%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 7%; hạ tầng mạng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình, 100% xã; phổ cập toàn dân dịch vụ mạng di động 4G/5G và điện thoại di động thông minh; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 50%. Đến năm 2030, hình thành nền tảng dữ liệu cho các ngành kinh tế trọng điểm dựa trên dữ liệu của các cơ quan nhà nước và hạ tầng kết nối IoT, kết nối, chia sẻ rộng khắp; kinh tế số chiếm 30% GDP; tỷ trọng kinh tế số trong từng ngành, lĩnh vực đạt tối thiểu 20%; năng suất lao động hàng năm tăng tối thiểu 8%; phổ cập dịch vụ mạng internet băng rộng cáp quang, dịch vụ mạng di động 5G; tỷ lệ dân số có tài khoản thanh toán điện tử trên 80%.

Đặc biệt, trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, những khái niệm, như: chuyển đổi số, kinh tế số, xã hội số cũng lần đầu tiên được đề cập. Nội hàm của những khái niệm này còn được nhấn mạnh nhiều lần trong mục tiêu, quan điểm phát triển lẫn đột phá chiến lược. Với kỳ vọng là cuộc cách mạng số sẽ thực sự tạo ra được sự bứt phá cho đất nước ta trong những thập niên tới, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đặt ra yêu cầu thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số để tạo bứt phá về nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thực tế cho thấy, trong những năm qua, quá trình chuyển đổi số tại Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận, trên 50% các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và bắt đầu triển khai các chương trình, đề án, kế hoạch về chuyển đổi số. Nhiều doanh nghiệp công nghệ Việt Nam đã làm chủ các công nghệ cốt lõi, phát triển các nền tảng công nghệ cho chuyển đổi số, trong đó, có khoảng 40 nền tảng “Make in Việt Nam” được ra mắt. Công tác ứng dụng công nghệ số, chuyển đổi số trong cộng đồng doanh nghiệp cũng được thúc đẩy mạnh mẽ. Về cải cách hành chính, trục liên thông văn bản quốc gia và Cổng dịch vụ công Quốc gia đã đi vào vận hành, góp phần tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng và hàng triệu giờ công lao động.

Trong lĩnh vực kinh tế, chuyển đổi số là một yếu tố không thể thiếu giúp doanh nghiệp phát triển, Việt Nam là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển với tốc độ nhanh nhờ vào định hướng phát triển nền kinh tế số, Việt Nam đứng thứ 22/60 về tốc độ số hóa và thứ 48/60 quốc gia có tốc độ chuyển đổi kinh tế số nhanh trên thế giới (2020). Sự dịch chuyển và thay đổi theo hướng số hóa nhanh giúp Việt Nam phát triển kinh tế số ngày càng mạnh. Phát triển kinh tế số là sử dụng công nghệ số và dữ liệu để tạo ra những mô hình kinh doanh mới. Dựa trên nền tảng của nhiều công nghệ mới mà cốt lõi là công nghệ số (trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain), điện toán đám mây (Cloud Computing), Internet vạn vật (IoT)). Kinh tế số tạo ra không gian phát triển mới, mở ra cơ hội cho Việt Nam phát triển đột phá, nhanh chóng bắt kịp các nước phát triển mới bắt đầu quá trình chuyển đổi số. Nhờ những nỗ lực khởi động chương trình chuyển đổi số quốc gia, quy mô kinh tế số của Việt Nam đạt 14 tỷ USD (năm 2020), đóng góp 5% GDP và đứng thứ hai ASEAN về tốc độ tăng trưởng kinh tế số (sau Indonesia). Việt Nam cũng là quốc gia có tỷ trọng tổng giá trị hàng hóa kinh tế số lớn nhất trong khu vực, đạt 4% GDP; đứng thứ 2 là Singapore 3,2% GDP; Indonesia 2,9% GDP; Thái Lan và Malaysia 2,7% GDP; Philippines 1,6% GDP (năm 2020). Đối với quy mô nền kinh tế số, Việt Nam xếp thứ 3 trong khu vực, đạt giá trị 9 tỷ USD (sau Indonesia và Thái Lan). Chuyển đổi số là một yếu tố không thể thiếu giúp doanh nghiệp dần dần quay trở lại trạng thái bình thường mới sau đại dịch COVID. Đối với Việt Nam, 61% các nhà lãnh đạo doanh nghiệp được khảo sát cho biết họ đã nhận thấy sự thay đổi hành vi và động cơ mua hàng của người tiêu dùng kể từ đầu năm 2020, 21% cho biết họ không thấy bất kỳ sự thay đổi nào trong nhu cầu của khách hàng và 16% vẫn không chắc chắn. Trước thời kỳ khủng hoàng COVID-19, thay đổi công nghệ chủ yếu tập trung vào việc giảm chi phí và tăng năng suất. Mục đích là giúp các doanh nghiệp hoạt động tốt hơn nữa. Cùng với việc thích nghi với các tác động mới do COVID-19 gây ra, vai trò của công nghệ sẽ bao gồm cả việc hướng tới phục hồi sản xuất, tạo ra lợi nhuận và phát triển bền vững. Việt Nam đã tham gia xây dựng nhiều quy tắc mới về thương mại điện tử trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) như Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP, 2020) và Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA, 2010). Việt Nam hợp tác với các nước để xây dựng khung pháp lý phù hợp, giúp kinh tế số phát triển đúng hướng, hiệu quả và hài hòa với lợi ích chung của toàn xã hội. Tăng cường kết nối cộng đồng khoa học công nghệ giữa các quốc gia, khu vực để nâng cao trình độ kỹ năng số. Tận dụng các cam kết trong các FTA Việt Nam đã ký với các nước đối tác để khôi phục, mở rộng thị trường xuất khẩu, thu hút đầu tư.

Trong lĩnh vực y tế, đề án khám, chữa bệnh từ xa thông qua hệ thống kết nối Telehealth với 1.000 cơ sở y tế đã được kết nối, qua đó xóa bỏ khoảng cách y tế giữa các vùng miền, các tuyến khám, chữa bệnh, giảm tỷ lệ chuyển tuyến xuống dưới 10% so với 30% trước đây, góp phần giảm tải cho hệ thống y tế tuyến trên cũng như tiết kiệm chi phí khám, chữa bệnh cho người dân (Tường Huy, 2021).

Trong lĩnh vực giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý đã được triển khai khá đồng bộ và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt, trước tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 trong thời gian vừa qua, ngành giáo dục đã triển khai quyết liệt, mạnh mẽ, hiệu quả dạy và học trực tuyến qua các ứng dụng trên nền tảng internet, qua truyền hình với phương châm “tạm dừng đến trường, không dừng việc học”. Theo báo cáo Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student Assessment) năm 2020 do Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố, việc học trực tuyến để phòng, chống đại dịch Covid-19 của Việt Nam có nhiều điểm tích cực so với các quốc gia và vùng lãnh thổ khác với 79,7% học sinh phổ thông được học trực tuyến so mức trung bình chung của các nước OECD là 67,5%.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TẠI VIỆT NAM

Có thể nói, những thành tựu công nghệ số trong sự phát triển Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang mở ra nhiều cơ hội để cho Việt Nam đạt được những bước phát triển vượt bậc trong khoảng thời gian ngắn, mà không nhất thiết phải thực hiện từng bước theo trình tự như cách tiếp cận truyền thống. Tuy nhiên, để thúc đẩy chuyển đổi số nền kinh tế thành công, một số vấn đề đặt ra cần giải quyết gồm:

1) Nâng cao nhận thức về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số về ý nghĩa, tầm quan trọng, nội dung chuyển đổi số nhằm tạo được sự chuyển đổi mạnh mẽ trong nhận thức cho mọi thành viên xã hội để có sự chuẩn bị về tâm lý, điều kiện, kỹ năng cần thiết để thích ứng và sẵn sàng tham gia chủ động, tích cực.

2) Hoàn thiện thể chế, khung khổ pháp luật theo hướng tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với môi trường kinh doanh số, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều chỉnh các mối quan hệ mới phát sinh trong quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. Xây dựng hành lang pháp lý cho định danh số và xác thực điện tử quốc gia; thiết lập khung danh tính số quốc gia. Hoàn thiện luật pháp, chính sách về xây dựng, quản lý và kết nối, khai thác các cơ sở dữ liệu; luật pháp, chính sách về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho các công nghệ mới, sản phẩm mới; luật pháp, chính sách tài chính, tiền tệ nhằm khuyến khích, huy động các nguồn lực xã hội vào các hoạt động nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ số vào sản xuất, kinh doanh và quản lý sản xuất, kinh doanh, vào phát triển thương mại điện tử, thanh toán điện tử, quản lý thuế và các dịch vụ xuyên biên giới.

2) Xây dựng, phát triển hệ thống hạ tầng, nền tảng số quốc gia đồng bộ, rộng khắp tới mọi vùng, miền, địa phương, mọi doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, mọi hộ gia đình; bảo đảm đáp ứng yêu cầu kết nối, lưu trữ, xử lý dữ liệu, thông tin, giám sát, bảo đảm an ninh, an toàn mạng. Trong đó, cần chú trọng xây dựng hệ thống định danh và xác thực điện tử quốc gia phục vụ giao dịch điện tử giữa người dân với các cơ quan nhà nước và các giao dịch điện tử dân sự khác một cách dễ dàng, đơn giản, thuận lợi. Xây dựng hệ thống thanh toán điện tử có khả năng cung cấp dịch vụ thanh toán điện tử cho tất cả doanh nghiệp và người dân. Xây dựng, phát triển các nền tảng số cho phát triển các ngành, lĩnh vực, như: thương mại điện tử, nông nghiệp thông minh; khám, chữa bệnh từ xa, hồ sơ, bệnh án điện tử; dạy và học từ xa, đào tạo trực tuyến; hệ thống giao thông thông minh, năng lượng thông minh...

4) Thúc đẩy chuyển đổi số trong các doanh nghiệp. Cần tạo lập môi trường thuận lợi, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới, sáng tạo về công nghệ số và ứng dụng công nghệ số để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ mới trong các ngành, lĩnh vực kinh tế - xã hội. Khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp chuyển từ gia công, lắp ráp sang thiết kế, chế tạo sản phẩm trên cơ sở nghiên cứu phát triển, làm chủ công nghệ, nhất là công nghệ số trong sản xuất và quản lý sản xuất, sản xuất thông minh, cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên nền tảng công nghệ số. Quan tâm nghiên cứu phát triển, làm chủ công nghệ sản xuất các máy móc, thiết bị số cho sản xuất và tiêu dùng xã hội.

5) Đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển tư duy sáng tạo, thích ứng với môi trường khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng; đưa vào chương trình giáo dục phổ thông các nội dung kỹ năng số. Đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số, khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên nền tảng số. Có cơ chế khuyến khích đối với các tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào tạo về công nghệ số, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng lớn, càng cao về chuyển đổi số, phát triển kinh tế số của đất nước. Quan tâm hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, đào tạo lại nghề cho người lao động chuyển đổi công việc trong quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế số.

Tóm lại, phát triển kinh tế số và xã hội số đang là xu thế và động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế- xã hội toàn cầu. Việt Nam hiện có 17 FTA với 60 đối tác (năm 2021) với thị trường nội địa gần 100 triệu người, dân số trẻ chiếm tỷ lệ cao với 70% dân số sử dụng Internet, có tinh thần đổi mới sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh với công nghệ số, là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ số cao nhất thế giới. Tiềm năng phát triển kinh tế số của Việt Nam rất lớn. Quy mô kinh tế số Việt Nam thậm chí có thể đạt 43 tỷ USD năm 2025 và sẽ tăng trưởng nóng nhất trong các lĩnh vực gồm thương mại điện tử, du lịch trực tuyến, truyền thông trực tuyến và gọi xe công nghệ. Phát triển kinh tế số giúp mở rộng thị trường, thúc đẩy tiêu dùng, Việt Nam cần tận dụng được những cơ hội của hội nhập quốc tế, đặc biệt là những FTA thế hệ mới mà Việt Nam đã ký kết như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA). Đồng thời, tập trung phát triển mạnh những lĩnh vực nền tảng của kinh tế số như hạ tầng số, tài nguyên số, dịch vụ số, thị trường số và có chiến lược bài bản để tiếp cận, làm chủ những công nghệ quan trọng, cốt lõi của kinh tế số thông qua các chính sách hỗ trợ, hợp tác và thu hút đầu tư nước ngoài ./.

PGS.TS. Trần Tiến Ban
Học viện Bưu chính Viễn Thông Việt Nam

Các tin khác