
1.1.1. Thực trạng ứng dụng CNTT trong công tác quản lý:
Trước sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ gắn liền với việc ứng dụng ứng CNTT trong công tác quản lý điều hành đã khiến hoạt động này trở nên toàn diện, khoa học, minh bạch hơn. Hoạt động ứng dụng CNTT trong công tác quản lý trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định.
- Ứng dụng CNTT vào thực hiện ba đột phá chiến lược:
+ Ứng dụng vào triển khai chương trình cải cách hành chính, xây dựng chính phủ điện tử và cung cấp dịch vụ công trực tuyến: Thực hiện Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/06/2011 của Chính phủ Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước, tỉnh Ninh Bình đã xây dựng và vận hành Cổng Thông tin điện tử của tỉnh gồm 1 cổng chính, 26 cổng thành phần của các cơ quan sở, ngành, UBND các huyện, thành phố. 100% cơ quan Nhà nước đã có trang thông tin điện tử và các dịch vụ công trực tuyến đã được cung cấp đầy đủ ở mức độ 1, 2, cơ bản đáp ứng yêu cầu.
+ Ứng dụng vào triển khai Cổng dịch vụ công trực tuyến tích hợp một cửa điện tử: Tổng số thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh là 1787, trong đó đã cung cấp 718 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 254 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4. Số dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 do tỉnh triển khai là 678 và 242 dịch vụ công mức độ 4, số dịch vụ công còn lại do các cơ quan trung ương triển khai. Tỉnh đã xây dựng phần mềm một cửa điện tử tích hợp với cổng dịch vụ công trực tuyến để tiếp nhận và trả kết quả các thủ tục hành chính cho người dân, doanh nghiệp. Đã triển khai tiếp nhận hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính qua dịch vụ bưu chính công ích, kết nối mạng thông tin phục vụ công việc. Triển khai hệ thống quản lý văn bản hồ sơ công việc, sử dụng văn bản điện tử: Việc trao đổi văn bản điện tử giữa các cơ quan đã được chú trọng thực hiện, 100% cơ quan nhà nước từ cấp xã trở lên đã kết nối liên thông hệ thống quản lý văn bản hồ sơ công việc. 100% cơ quan hành chính cấp tỉnh và huyện được triển khai áp dụng Hệ thống kiểm soát công tác chỉ đạo và điều hành phục vụ tốt công tác theo dõi, đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ do UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh giao cho các cơ quan, đơn vị thực hiện, hạn chế tình trạng chậm trễ, bỏ sót công việc.
+ Ứng dụng vào triển khai các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu: Các cơ quan, đơn vị trong tỉnh bước đầu đã triển khai một số CSDL chuyên ngành phục vụ cho công tác chuyên môn như: Hệ thống quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, viên chức (Sở Nội vụ); Hệ thống quản lý hồ sơ người có công, quản lý hồ sơ liệt sỹ, cung cầu lao động, giảm nghèo, bảo trợ xã hội (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội), Hệ thống quản lý dữ liệu đất đai (Sở Tài nguyên và Môi trường),…
1.1.2. Từng bước xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia:
- Để đáp ứng mức độ hiện đại hóa, chuẩn hóa, đồng bộ và liên thông đảm báo khả năng tiếp cận và sử dụng cho các tổ chức và cá nhân, Ninh Bình đã triển khai nền tảng hạ tầng số tại hầu hết cơ quan, đơn vị.
- Có thể khẳng định, hạ tầng kỹ thuật CNTT trong các cơ quan nhà nước đã từng bước được hoàn thiện, cơ bản đáp ứng được nhu cầu phục vụ công tác quản lý nhà nước của các cơ quan, đơn vị, địa phương. Đến nay, 100% cán bộ công chức cấp tỉnh, 95% cán bộ công chức cấp huyện, khoảng 50% cán bộ công chức cấp xã có máy tính sử dụng trong công việc. 100% cơ quan nhà nước các cấp đã được kết nối mạng LAN, kết nối Internet tốc độ cao đáp ứng được nhu cầu trao đổi dữ liệu trong nội bộ cơ quan; 100% các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện và một số cơ quan khác trên địa bàn tỉnh đã được kết nối với hệ thống mạng WAN nội tỉnh tốc độ cao, đáp ứng yêu cầu về trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước kết nối đến trung tâm dữ liệu của tỉnh.
1.1.3. Tập trung phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin:
- Tỉnh đã thành lập Ban chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình gồm 36 thành viên, trong đó Trưởng ban là đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Phó Trưởng ban là Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy viên Thường trực là đồng chí Giám đốc Sở Thông tin và Truyền thông, Giám đốc Sở Nội vụ, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư, Giám đốc Sở Tài chính. Đối với cấp sở, 100% sở, ban, ngành có Ban Biên tập Cổng Thông tin điện tử. Đối với cấp huyện, Phòng Văn hóa Thông tin đã chủ động tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện thành lập, kiện toàn Ban Chỉ đạo xây dựng chính quyền điện tử và Ban biên tập cổng thông tin điện tử cấp huyện. Các Ban Chỉ đạo, Ban Biên tập đã chỉ đạo khá thường xuyên, có hiệu quả các hoạt động ứng dụng CNTT, tổ chức cập nhật kịp thời một số thông tin trên các trang thông tin điện tử.
- Hàng năm, Sở Thông tin và Truyền thông đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng ứng dụng, sử dụng CNTT cho cán bộ CCVC trong cơ quan, đơn vị. Đến nay, 90% các cơ quan Nhà nước cấp tỉnh, cấp huyện có cán bộ chuyên trách, bán chuyên trách về công nghệ thông tin. Tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh làm Trưởng Ban Chỉ đạo, thành lập Đội ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng do Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì thực hiện.
1.1.4. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, góp phần giữ vững chủ quyền quốc gia:
- Hoạt động bảo đảm ATTT theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông được triển khai hiệu quả. Tỉnh đã thành lập đội ứng cứu sự cố an toàn thông tin mạng tỉnh Ninh Bình; xây dựng kế hoạch thực hiện Quyết định 05/QĐ-TTg của Thủ trướng chính phủ về ứng cứu sự cố an ninh mạng; kiện toàn chức năng, nhiệm vụ chỉ đạo ứng cứu sự cố an ninh mạng đối với Ban chỉ đạo phát triển Chính quyền điện tử của tỉnh.
- Triển khai các nội dung về giám sát, đánh giá an ninh mạng để phân tích, đánh giá tình hình an ninh mạng của các hệ thống CNTT dùng chung của tỉnh, qua đó kịp thời phát hiện và ứng phó sự cố an ninh mạng chủ động, có hiệu quả. Triển khai phần mềm quét mã độc tập trung toàn tỉnh để quét, tìm, cô lập và tiêu diệt các loại mã độc như virus, phần mềm gián điệp, phần mềm độc hại... trong hệ thống máy tính của các cơ quan đơn vị.
- Sở Thông tin và Truyền thông đã chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị triển khai thực hiện cảnh báo, xử lý khẩn cấp mã độc và khắc phục các sự cố mất an toàn thông tin; thực hiện tốt các biện pháp nhằm khắc phục, phòng tránh các phương thức tấn công khai thác hệ thống theo hướng dẫn của Bộ Thông tin và Truyền thông. Hàng năm, trang bị phần mềm bản quyền diệt virus (BKAV-Endpoint) cho 26 cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh.
1.2. Thực trạng ứng dụng CNTT trong sản xuất kinh doanh:
- Việc ứng dụng CNTT trong các doanh nghiệp của tỉnh bước đầu đạt được một số kết quả nhất định, do các doanh nghiệp đã nhận thức tốt về ứng dụng công nghệ thông tin và có đầu tư về cơ sở hạ tầng cho ứng dụng và phát triển CNTT.
- Theo Cục Thống kê tỉnh Ninh Bình, trong tổng số 480 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đang hoạt động sản xuất kinh doanh trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 100% doanh nghiệp có sử dụng công nghệ, máy móc thiết bị thông tin truyền thông (CN-MMTB-TT-TT).
- Ứng dụng CNTT trong khu vực doanh nghiệp rất đa dạng, phong phú với 7 loại công việc chính đó là: Điều hành tác nghiệp; gửi và nhận email; tìm kiếm thông tin; học tập, nghiên cứu; giao dịch với cơ quan tổ chức khác; hoạt động tài chính và cung cấp dịch vụ trực tuyến.
- Trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nhóm các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Tài chính, Ngân hàng, Bảo hiểm, Bưu chính, Viễn thông đã quan tâm đầu tư cho ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý sản xuất kinh doanh và đạt kết quả khá tốt. Nhiều phần mềm được ứng dụng như phần mềm quản lý khách hàng, phần mềm quản lý nhân sự, kế toán; phần mềm quản lý hàng hóa; phần mềm quản lý cước.
- Hiện có 100% doanh nghiệp sử dụng Internet phục vụ công việc của đơn vị; một số doanh nghiệp đã có website. Hầu hết các doanh nghiệp đều đã triển khai sử dụng các phần mềm văn phòng (như Word, Excel...), thư điện tử và một số doanh nghiệp có triển khai sử dụng phần mềm ERP, phần mềm xác lập quy trình sản xuất, quản lý khách hàng, quản lý nguyên liệu, quản lý tài chính kế toán.
- Một trong những ứng dụng rõ nét và hiệu quả của CNTT vào quá trình sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh đó là hoạt động thương mại điện tử.
- Đồng thời triển khai hỗ trợ các doanh nghiệp chế biến nông sản tham gia các trang bán hàng toàn cầu như amzon.com, alibaba.com; giới thiệu các sản phẩm rau quả chế biến của Công ty Cổ phần Xuất khẩu Đồng Giao, của Công ty cổ phần chế biến nông sản Việt Xanh, Công ty cổ phần thực phẩm Á Châu; các sản phẩm như thịt dê, cơm cháy, nem Yên Mạc, mắm tép Gia Viễn… trên các website của chuyên ngành của ngành Công Thương như ww.congthuong.ninhbinh.gov.vn; www.xnkninhbinh.com; www.vnex.com.vn...; tổng hợp xây dựng cơ sở dữ liệu trực tuyến về mặt hàng xuất khẩu của tỉnh, trong đó các mặt hàng nông sản phục vụ Đề án thúc đẩy xuất khẩu trực tiếp vào kênh phân phối nước ngoài của Bộ Công Thương.
- Hiện tại, các doanh nghiệp kinh doanh trên địa bàn tỉnh bước đầu đã chú trọng tới vai trò của ứng dụng công nghệ thông tin trong sản xuất kinh doanh, đã có nguồn nhân lực công nghệ thông tin phụ trách triển khai và ứng dụng các hệ thống thông tin trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, bộ phận chuyên trách công nghệ thông tin của các doanh nghiệp vẫn còn thiếu nhiều, đa số các nhân viên phải làm việc kiêm nhiệm hoặc thuê ngoài trong lĩnh vực ứng dụng, bảo trì hệ thống ứng dụng CNTT.
2. Thách thức của tỉnh Ninh Bình trong xây dựng Chính quyền điện tử, sử dụng dịch vụ đô thị thông minh, tiến tới xây dựng nền kinh tế số và kinh tế tri thức
Việt Nam đi sau trong xu hướng kinh tế số, nhận thức, kiến thức của nhiều cán bộ, doanh nghiệp và người dân về kinh tế số, thời cơ và thách thức của nó đối với sự phát triển của đất nước còn chưa đồng đều ở các cấp, các ngành dẫn tới nhu cầu, kế hoạch và hành động nắm bắt xu thế kinh tế số còn chưa kịp thời, nhanh nhạy, sự chuyển đổi số ở một số cấp, ngành, địa phương và các doanh nghiệp còn hạn chế.
Môi trường pháp lý và thể chế cho phát triển kinh tế số ở nước ta vừa thiếu, vừa nhiều lỗ hổng, chưa chặt chẽ, đồng bộ, minh bạch và mang tính kiến tạo. Thời gian qua, do sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kinh tế số cùng các phương thức kinh doanh và các ý tưởng sáng tạo mới xuất hiện và chưa có tiền lệ trước đây làm cho các cơ quan quản lý nhà nước tỏ ra khá lúng túng.
Thách thức về an ninh mạng, bảo mật, an toàn thông tin ở nước ta. Kinh tế số dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, Internet chứa đựng nguy cơ lớn về bảo mật, an toàn thông tin, tài chính và tính riêng tư của dữ liệu, của các chủ thể kinh tế số. Việt Nam là một trong những quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất và cũng dễ bị tổn thương nhất khi bị tấn công mạng.
Có thể nhận thấy thách thức cơ bản nhất của quá trình phát triển nền kinh tế số nằm ở câu hỏi quá trình chuyển đổi số của chúng ta sẽ diễn ra như thế nào? Nói cách khác là làm sao dung hoà được lợi ích và quản lý song song các mô hình kinh tế truyền thống và kinh tế số hay kinh tế chia sẻ. Phần lớn các nghiên cứu gần đây về triển vọng của nền kinh tế số đều cho rằng rào cản lớn nhất là vấn đề lòng tin. Nghĩa là làm sao các mô hình hay sản phẩm công nghệ mới tạo được sự tin cậy đối với khách hàng nói riêng và cộng đồng nói chung.
Một thách thức to lớn và cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ đã từng được cảnh báo là khi các tập đoàn thương mại điện tử phát triển và vận hành một hệ sinh thái kinh doanh khép kín bao gồm nhiều sản phẩm, dịch vụ, tiện ích đầu cuối, từ vận chuyển, đi lại, du lịch, ẩm thực, giải trí, sách báo, siêu thị điện tử cho đến khám chữa bệnh...; đặc biệt là, tất cả các giao dịch đó đều được thực hiện thanh toán thông qua ví điện tử do chính các công ty này tạo ra thì nhiều vấn đề về quản lý nhà nước, thậm chí là an ninh tiền tệ sẽ được đặt ra. Chẳng hạn như làm sao để xác định doanh số thực sự phát sinh hàng tháng, quý, năm để làm cơ sở tính thuế, bởi vì khi đó toàn bộ giá trị của các giao dịch sẽ bị “che phủ” do việc thanh toán được thực hiện qua ví điện tử, sẽ có rất nhiều cách để các công ty này có thể qua mặt cơ quan thuế. Kế đến là sức mạnh và vai trò của tiền Đồng trong chính sách tiền tệ sẽ bị suy yếu khi mà nó không còn là đồng tiền duy nhất được chấp nhận trong thanh toán ở Việt Nam theo Hiến định.
3. Định hướng chiến lược xây dựng Chính quyền điện tử và phát triển dịch vụ đô thị thông minh trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2021-2025
3.1. Xây dựng đề án
Xây dựng và ban hành Đề án triển khai thực hiện Khung Kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình phiên bản 2.0 dựa trên việc nâng cấp, cập nhật tài liệu Kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình phiên bản 1.0 (đã được ban hành theo Quyết định số 968/QĐ-UBND ngày 21/7/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Ninh Bình) trên cơ sở phù hợp với dự thảo Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam phiên bản 2.0 của Chính phủ, xu hướng phát triển cuộc cách mạng công nghệ 4.0 và hiện trạng phát triển Chính quyền điện tử tại tỉnh Ninh Bình.
Xây dựng Đề án triển khai thực hiện Khung Kiến trúc Chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình phiên bản 2.0 với các nội dung: Xây dựng được kiến trúc tham chiếu nghiệp vụ, kiến trúc tham chiếu dữ liệu, kiến trúc tham chiếu ứng dụng, kiến trúc tham chiếu công nghệ, kiến trúc tham chiếu an toàn thông tin của tỉnh Ninh Bình. Trên cơ sở đó đưa ra được lộ trình và kế hoạch triển khai trong thời gian tới.
Khung kiến trúc chính quyền điện tử tỉnh Ninh bình phiên bản 2.0 làm cơ sở cho việc xây dựng quy hoạch CQĐT, xác định các yêu cầu công nghệ, yêu cầu đầu tư trong việc phát triển CQĐT giai đoạn 2019-2020, tầm nhìn 2025, đáp ứng yêu cầu của chính phủ trong việc xây dựng, ban hành kiến trúc chính phủ điện tử của các Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
3.2. Kế hoạch triển khai và thực hiện đề án
Để đề án Khung kiến trúc chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình phiên bản 2.0 triển khai có hiệu quả cần sự tham gia tích cức, trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh và thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp về: Tổ chức, chỉ đạo; phát triển nguồn nhân lực CNTT; môi trường, chính sách; cơ chế, tài chính; ứng dụng CNTT hướng đến chính quyền điện tử; khoa học, công nghệ; an toàn thông tin... Trong đó, các nhóm giải pháp có quan hệ biện chứng với nhau và là một mắt xích quan trọng tạo nên sự thành công của Chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình.
Để đề án Khung kiến trúc chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình phiên bản 2.0 được triển khai theo lộ trình:
Giai đoạn 2020-2021 triển khai các dự án: Tập trung đầu tư Nền tảng tích hợp chia sẻ thông tin của tỉnh LGSP; Xây dựng trung tâm dữ liệu lớn của tỉnh và trung tâm điều hành chung của tỉnh; Xây dựng trung tâm giám sát an toàn an ninh tỉnh do Sở Thông tin và Truyền thông là cơ quan chủ trì, triển khai tổ chức thực hiện.
Dự án Nâng cấp cổng thông tin điện tử của tỉnh do Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì và Dự án Đầu tư cơ sở hạ tầng thông tin (máy chủ, máy tính cá nhân, máy in, máy chiếu, máy scan…) và các thiết bị an toàn thông tin triển khai cho các đơn vị trên địa bàn tỉnh.
Giai đoạn 2022-2025 tập trung triển khai các dự án: Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, kho dữ liệu, hệ thống phân tích dữ liệu do Sở Thông tin và Truyền thông chủ trì; Nâng cấp các hệ thống quản lý du lịch do Sở Du lịch chủ trì; Nâng cấp các hệ thống quản lý đất đai, tài nguyên môi trường do Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì; Nâng cấp các hệ thống quản lý giáo dục do Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì; Nâng cấp các hệ thống quản lý y tế do Sở Y tế chủ trì và Nâng cấp các hệ thống quản lý tài chính, giao thông, nông nghiệp do các Sở Tài chính, Giao thông vận tải và Sở Nông nghiệp & Phát triển nông thôn chủ trì.
3.3. Kiến trúc Chính quyền điện tử và các dự án ưu tiên
Khung kiến trúc chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình phiên bản 2.0 được triển khai với các dự án ưu tiên xây dựng gồm: Đầu tư xây dựng trung tâm dữ liệu của tỉnh; Triển khai, xây dựng hệ thống phòng thủ, giám sát ATTT cho trung tâm dữ liệu tập trung của tỉnh và các hệ thống theo dõi, giám sát an toàn thông tin cho các hệ thống thông tin của tỉnh; Nâng cấp hệ thống mạng của tỉnh; Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chính quyền điện tử cho các sở, ban, ngành, UBND cấp huyện; Xây dựng Trung tâm hành chính công của tỉnh; Triển khai hệ thống họp không giấy tờ cho tỉnh ủy, UBND và HĐND tỉnh; Xây dựng, nâng cấp CSDL dùng chung của tỉnh; Triển khai nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ dịch vụ (LGSP) bao gồm hệ thống thu thập dữ liệu lớn (DIP) của tỉnh; Đầu tư xây dựng kho dữ liệu lớn của tỉnh và hệ thống phần mềm phân tích, dự báo và tổ chức tích hợp dữ liệu từ cơ sở dữ liệu chuyên ngành vào kho dữ liệu lớn của tỉnh; Triển khai, xây dựng, nâng cấp các dịch vụ công trực tuyến cấp độ 3,4 và số hóa hệ thống văn bản của các cơ quan, đơn vị; Tăng cường đào tạo, tập huấn CNTT; Triển khai, nâng cấp một số dịch vụ về du lịch trực tuyến; Triển khai các dịch vụ về y tế số: Triển khai các dịch vụ giáo dục thông minh; Triển khai các dịch vụ về giao thông; Triển khai các dịch vụ Nông nghiệp và xây dựng hệ thống thanh toán trực tuyến.
3.4. Nhận định tính khả thi của đề án và những thách thức
Đề án Khung kiến trúc chính quyền điện tử tỉnh Ninh Bình phiên bản 2.0 được triển khai với các dự án ưu tiên xây dựng nêu trên có tính khả thi cao bởi vì xây dựng Chính quyền điện tử là sự cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chủ trương, chính sách về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Tỉnh ủy, HĐND, UBND luôn chỉ đạo, lãnh đạo sát sao, thường xuyên đối với nhiệm vụ này và cấp ủy, chính quyền các cấp đều rất quan tâm, đồng lòng trong triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng chính quyền điện tử.
Xây dựng Chính quyền điện tử, sử dụng dịch vụ đô thị thông minh, tiến tới xây dựng nền kinh tế số và kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu của xã hội vì vậy chúng ta không thể đứng ngoài cuộc.
3.5. Bối cảnh và xu hướng xây dựng nền kinh tế số và kinh tế tri thức tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2021-2025 và những năm tiếp theo
Thế giới đang bước vào thời đại CMCN 4.0 với bản chất là dựa trên cuộc cách mạng kỹ thuật số. Vì vậy, kinh tế số đang trở thành đặc trưng và xu hướng phát triển kinh tế - công nghệ quan trọng nhất hiện nay. Cốt lõi của kinh tế số chính là thương mại điện tử và đây lại là một lĩnh vực nhiều triển vọng của nước ta. Năm 2019, doanh thu bán lẻ thị trường Việt Nam ước đạt 211 tỷ USD, trong đó doanh thu thương mại điện tử đạt khoảng 10,4 tỷ USD tương ứng 4,92% thị phần bán lẻ. Thương mại điện tử tại Việt Nam đã có sự bứt phá mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng trung bình từ 25% -30%/năm, dự tính sẽ đạt mốc 50 tỷ USD chiếm khoảng 12% thị trường bán lẻ trong nước đến năm 2025.
Với những giá trị to lớn mà nền kinh tế số đã và sẽ mang đến, nó được coi là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Kinh tế số là đòn bẩy để Việt Nam có thể đi nhanh, đi tắt, trở thành "con hổ" thứ 5, biểu tượng trỗi dậy tiếp theo của châu Á. Và Ninh Bình cũng không nằm ngoài xu hướng đó./.
PGS.TS Đỗ Văn Dung, ThS Trần Thị Thảo